CHẾ ĐỘ CSVN ĐANG TỒN TẠI BẰNG GÌ ?(KỲ 2) -TÂN PHONG.

14 Tháng Ba 20185:33 CH(Xem: 1310)
CHẾ ĐỘ CSVN ĐANG TỒN TẠI BẰNG GÌ ?(KỲ 2) -TÂN PHONG.

     III- ĐẤT ĐAI: NGUỒN GỐC HƯNG VONG CỦA QUỐC GIA

     Đất đai là tài sản lớn nhất của một quốc gia. Đất đai vừa là lãnh thổ không gian sinh tồn của người dân, vừa chứa đựng tài nguyên trên bề mặt lẫn dưới lòng đất, nuôi dưỡng vạn vật, cung cấp nguyên liệu khoáng sản để tạo ra văn minh loài người. Tất cả các giá trị lớn nhất về vật chất, văn hóa, kiến trúc, tài sản hữu hình đều gắn liền với đất đai. Do đó, đất đai có giá trị tích lũy ngày một lớn hơn qua thời gian, chứa đựng toàn bộ lịch sử tiến hóa, phát triển của xã hội loài người.

     Việc sử dụng và khai thác tài nguyên quan trọng bậc nhất của mọi quốc gia là đất đai rõ ràng là một điều then chốt cho sự thịnh vượng của quốc gia đó. Một quốc gia biết sử dụng khoa học, bảo vệ tài nguyên của mình tốt, nhất định sẽ phát triển hưng thịnh. Còn những quốc gia sử dụng tài nguyên đất đai phí phạm, thiển cận trong quản lý, hủy hoại tài nguyên của mình thì nhất định sẽ nghèo đói, thất bại. Mọi thể chế, mọi quốc gia đều phải giải quyết bài toán quản lý, khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên đất đai như một điều kiện tiên quyết cho sự phát triển.

     Ở Việt Nam, nguồn tài nguyên quí giá này được quản lý, sử dụng, khai thác và bảo vệ bằng một rừng luật nhưng cực kỳ phi khoa học, đi ngược lại mọi qui luật biện chứng khách quan và có vô số những lỗ hổng mang tính hệ thống trong luật Đất đai –Bộ luật chính yếu điều chỉnh mọi phạm vi liên quan đến vấn đề Đất đai. Thậm chí, bộ luật này còn bị vô hiệu hóa bởi chính Hiến pháp và vô số văn bản dưới luật như Nghị định hay Thông tư của Chính phủ và cả các Bộ ngành không liên quan đến lĩnh vực này… một cách rất khôi hài.

     Ví dụ, trong Điều 53, 54 Hiến pháp Việt Nam 2013, dù qua nhiều lần sửa đổi, nhưng câu Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý… là một định nghĩa mập mờ, phi khoa học, đánh tráo khái niệm trong vấn đề căn bản là “sở hữu” – một trong những quyền cơ bản nhất của con người. Bị trói chặt trong “cái lồng tư duy thể chế”, những ngôn từ sáo rỗng, ngụy biện nhưng có hình tượng ví von được nhà cầm quyền sử dụng để đánh bóng ngôn ngữ luật pháp thay vì cần rõ ràng và minh định.

     Có lẽ không có một đất nước nào mà người dân –“chủ sở hữu” được định danh trong HP– phải bỏ ra một gia tài bằng cả đời chắt bóp, thậm chí nhiều đời ky cóp để “mua” một thứ gọi là “quyền sử dụng đất” trên chính mảnh đất của mình.

     “Quyền sử dụng” này có thể bị Nhà nước thu hồi bất cứ lúc nào với bất kỳ lý do nào khi Quốc hội, Chính phủ hay Hội đồng nhân dân tỉnh có nhu cầu lấy đất để phục vụ các dự án công cộng, kinh tế xã hội hay quốc phòng… Quyền sở hữu về đất đai của người dân bị vô hiệu hóa bằng một “chủ thể” mơ hồ có tên “Toàn dân” tức là KHÔNG AI CẢ nhưng Nhà nước được quyền “đại diện và thống nhất quản lý”.

     Mưu mẹo của Odysseus với tên khổng lồ một mắt trong Sử thi Odyssey đã được nhà cầm quyền Cộng sản bắt chước với sự gian manh cao độ và nạn nhân ở đây là Nhân dân. Người dân không có quyền định đoạt tài sản của mình mà chỉ có “quyền sử dụng”.

     Nhà nước CS loại bỏ quyền sở hữu của người dân và tránh bị ràng buộc trách nhiệm pháp lý với chủ sở hữu về tài sản bằng trò lưu manh được hợp hiến và hợp pháp với những khái niệm bị đánh tráo trong trò chơi con chữ. Nó cũng giống như câu nói để đời của ông cựu chủ tịch Quốc hội VN Nguyễn Sinh Hùng khi nói rằng: Luật do Quốc hội thông qua, mà Quốc hội là dân bầu, nên Luật sai là do dân. Dân sai thì dân chịu chứ thắc mắc gì. Câu nói này thể hiện toàn bộ sự lưu manh của quan chức CS cũng như toàn bộ chế độ chính trị ở VN.

     Điều này chỉ làm lợi cho giới quan chức, các ban ngành, nhóm lợi ích, thân hữu, các tư bản đỏ sân sau của những quan chức cấp cao trong hệ thống Đảng, Chính quyền, giới chức Quân đội, Công an. Sự kiện vừa qua khi những sai phạm trong quản lý đất đai ở Đà Nẵng trong vụ án liên quan đến Vũ Nhôm – một thượng tá của Bộ Công an đã sử dụng “quyền lực đen” của Bộ Công an, thao túng chính quyền Đà Nẵng, “mua như cướp” hầu hết những đất vàng công sản của thành phố này, dễ dàng như người ta đi siêu thị với một cái visa card đầy ắp tiền.

     Người ta có thể thấy phần nào nội tình của thị trường Bất động sản ở Việt Nam – một bức tranh “quần ngư tranh thực” của những con cá mập được Đảng và Nhà nước nuôi béo bằng tài nguyên quốc gia như thế nào. Vũ nhôm chỉ là một ví dụ trong hàng trăm ngàn những “đại gia” đỏ như Quyết FLC, Vượng Vinpearl, Thản “điếu cày”… đã làm giàu từ sự lỏng lẻo, lũng loạn, tham nhũng và cực kỳ vô pháp luật trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai nói riêng cũng như môi trường pháp luật của thể chế Cộng sản nói chung.

     Những kẻ nằm trong hệ thống quyền lực có thể dễ dàng mua khống một tài sản quốc gia đáng giá ngàn tỷ đồng, cướp đoạt trắng trợn hàng trăm ha rừng nguyên sinh làm của riêng nhưng không hề hấn gì trong khi một người dân đói khát mà ăn trộm vài ổ bánh có thể bị tù mọt gông. Xã hội Việt Nam ngày nay giống như nước Pháp thời Jean Valjean trong “Những người khốn khổ” của đại văn hào Victor Hugo.

     Mâu thuẫn về đất đai chủ yếu từ việc thu hồi đất của người dân để phát triển các dự án kinh tế xã hội mà ở đây do các công ty bất động sản sân sau của các quan chức cấp tỉnh và trung ương tiến hành. Họ thu hồi đất đai của người dân đã định cư lâu dài, khai hoang từ nhiều đời trước bằng một cái giá mạt hạng để phù phép thành những trung tâm thương mại, resort, chung cư cao cấp, đất nền bán với giá bán lại gấp trăm ngàn lần.

     Khiếu kiện liên quan tới đất đai chiếm hơn 80% tổng số các mâu thuẫn xã hội dẫn đến kiện tụng, tố cáo và là nguyên nhân hàng đầu cho mọi mâu thuẫn xã hội nhức nhối hiện nay. Vụ án mạng mà những người nông dân khai khẩn đất hoang kinh tế mới ở Dak Lak đã dùng súng bắn chết 3 người bảo vệ và hàng chục người bị thương do bị dồn vào đường cùng khi chính quyền sở tại thông đồng tiếp tay cho doanh nghiệp đến chiếm đất mà sau thời gian dài người dân khiếu kiện không giải quyết theo trình tự pháp luật, đẩy người dân đến phẫn uất bùng nổ. Án tử hình cho Đặng Văn Hiến và những án tù nặng nề cho những nông dân liên quan trong vụ án này của nhà cầm quyền cho thấy một chế độ vừa vô pháp luật vừa phi nhân tính.

     Vấn đề căn nguyên của mọi mâu thuẫn xã hội trong lĩnh vực đất đai là sự mập mờ của Hiến pháp và Luật pháp, bị lợi dụng bởi những tập đoàn tham nhũng có “ấn bài” của Đảng CSVN.

     Chỉ riêng một nửa cán bộ tỉnh Dak Lak kê khai tài sản đã cho biết 2000 ha rừng bị chiếm dụng không có giấy tờ là một ví dụ nho nhỏ. Hàng ngàn mẫu rừng đầu nguồn các tỉnh biên giới như Quảng Ninh, Hà Giang… bị chính quyền các tỉnh này cho Trung Quốc thuê với thời hạn tới 99 năm là minh chứng về sự vô pháp luật của toàn bộ hệ thống công quyền từ cấp tỉnh đến Trung ương.

     Đây là những việc phản quốc, bán công thổ, phên dậu quốc gia trắng trợn của Đảng CSVN mà cái giá phải trả sẽ cực kỳ thảm khốc cho dân tộc Việt. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới cho biết từ năm 2000 đến 2003, Việt Nam đã bị mất đến 6,38% lãnh thổ tương đương 21.140 km2 so với diện tích lãnh thổ trước năm 2000 được xác định bằng hiệp định biên giới Pháp –Thanh ký kết năm 1887. Một con số và sự thực kinh hoàng mà cho đến nay rất ít người Việt được rõ.

     Đất đai: nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước CSVN

     Năm 2016, thu ngân sách nhà nước (NSNN) là 1.101,38 ngàn tỷ đồng trong đó thu từ đất là 98.755 tỷ đồng, chiếm đến 8,96% tổng thu NSNN.

     Năm 2015, con số thu từ đất khoảng 50.000 tỷ đồng chiếm khoảng 5,5% tổng thu NSNN và chiếm 1,1% GDP. Đây là năm giảm sâu nguồn thu từ đất do thị trường bất động sản suy thoái vì ảnh hưởng kinh tế suy trầm một thời gian dài.

     Năm 2010, là thời kỳ “bong bóng” rực rỡ nhất của bất động sản, nguồn thu từ đất là 67.767 tỷ đồng chiếm đến 11.21% NSNN (tổng thu năm đó là 604.570 tỷ đồng).

     Thời điểm năm 2002 trước khi Luật đất đai mới ban hành thì nguồn thu của đất khoảng 5.486 tỷ đồng trong tổng số thu NSNN là 123.860 tỷ chiếm khoảng 4.4%.

     Có thể thấy, nguồn thu từ đất (thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền thuê đất phi nông nghiệp, thuế đất nông nghiệp…) là một nguồn thu quan trọng cho thể chế CSVN, chiếm tỷ trọng khoảng 10% tổng thu ngân sách những năm gần đây.

     Thị trường bất động sản Việt Nam có thể được coi là một thị trường phi qui luật kinh tế vì mặt bằng giá cả vượt xa mặt bằng thu nhập của người dân hàng trăm, ngàn lần, cũng như vượt xa mọi nguyên tắc Cung-Cầu. Giá bất động sản ở những thành phố lớn như thành Hồ và Hà Nội ngang ngửa với Paris, Tokyo hay London như một sự chế nhạo các nguyên tắc kinh tế truyền thống. Lý do vì có quá nhiều tiền đổ vào đây suốt một thời gian dài.

     Tiền kiều hối, tiền tham nhũng, tiền tiết kiệm của dân, tiền vốn vay ngân hàng... đổ vào khiến cho quả bóng BĐS lúc nào cũng căng hơi và giá cả bị... thổi lên trời so với đại đa số người dân lao động.

     Với thu nhập bình quân chỉ khoảng 220 USD/tháng của người lao động Việt Nam, thấp hơn 10 lần so với khu vực trong khi mặt bằng giá bất động sản ở Việt Nam thì cao gấp nhiều lần so với Cambodia, Thái Lan, Lào, Philippin... khiến cho giấc mơ có một mái nhà nhỏ bé của người lao động ngày trở lên xa xôi như ảo ảnh về một thiên đường XHCN mà như ông Nguyễn Phú Trọng đã từng thốt lên: Không biết đến hết thế kỷ này có Chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở VN chưa.

     Nhưng một thực tế là đội quân dân oan bị nhà cầm quyền và những phe nhóm thân hữu cướp đoạt nhà cửa đất đai, đẩy họ ra đường “màn trời chiếu đất”, trở thành những Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng, Đặng Ngọc Viết ở Thái Bình, Đặng Văn Hiến ở Đăk Lak... thì ngày một nhiều hơn. Một giai cấp vô sản đông đảo thực sự được hình thành từ đường lối quản trị quốc gia vừa vô nhân đạo vừa vô luật pháp của đảng CSVN trong lĩnh vực đất đai.

     Nhưng sự bất công cùng cực đó thì làm cao thêm những tòa dinh thự nguy nga hàng ngàn tỷ đồng như của ông tướng công an Trần Kỳ Rơi ở Đak Lak, ông Phạm Sỹ Quí ở Yên Bái, ông Bùi Ngọc Phi ở Hải Dương. Những ông tướng này nếu so về độ giàu có thì còn thua xa những “bố già” của đảng CSVN nhưng vì quen thói võ biền và sở thích cung vua phủ chúa nên mới bị dân tình soi mói, chứ những dinh thự ở Pháp, Úc, Mỹ... của mấy vị Bộ Chính trị thì dân đen còn lâu mới được dịp chiêm ngưỡng. Đúng thật là chẳng trách những vị quan phụ mẫu sống trong những lâu đài đó, luôn thấy rằng “Nhìn tổng quát, đất nước đã bao giờ được như thế này không?

 

     IV-   BẢO HIỂM XÃ HỘI.

     Khi trụ cột an sinh bị đục ruỗng

     Ở mọi quốc gia, Bảo hiểm xã hội luôn là trụ cột an sinh quan trọng trong việc duy trì sự ổn định đời sống, chăm sóc, trả lương cho người già hưu trí và xây dựng hệ thống phúc lợi công cộng khác. Vấn đề đặt ra là nguồn tiền “tiết kiệm bắt buộc” của người dân nộp về cho quĩ Bảo hiểm xã hội do Nhà nước “quản lý” này có được “bảo toàn”, sử dụng đúng mục đích của nó hay không?

     Nếu số tiền của người lao động cả đời phải trích lại cho quĩ bảo hiểm xã hội bị bộ máy Nhà nước, thể chế làm thâm thụt, bị ăn cắp, sử dụng sai mục đích... dẫn đến mất khả năng đảm bảo các chức năng của Quĩ thì ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

     Trong một xã hội mà tham nhũng đã trở thành “bản chất chế độ” như ở Việt Nam, không khó hình dung hậu quả cuối cùng mà người dân sẽ phải gánh chịu khi một ngày nào đó, chính phủ tuyên bố “vỡ quĩ” vì hàng ngàn lý do “khách quan, đúng qui trình” như thu không đủ chi, doanh nghiệp nợ phí, người dân trốn thuế… bla bla.

     Theo Quyết định 595/QĐ-BHXH của Bộ Lao động Thương binh Xã hội từ 1-1-2018, doanh nghiệp và người lao động phải đóng tới 32% mức lương mà người lao động nhận. Tổng số BH 32% = BHXH 25% + BH Y tế 4,5% + BH Thất nghiệp 2% + BH tai nạn lao động 0.5%

     Chưa kể, mức thuế thu nhập cá nhân 5% là mức thấp nhất áp dụng cho mức thu nhập 5 triệu đồng/ tháng trở lên. Như vậy, một người lao động có mức lương chỉ khoảng hơn 5 triệu đồng đã phải đóng tới 37%-40% thu nhập từ lương cho tất cả các loại bảo hiểm và thuế thu nhập cá nhân. Một con số tàn bạo, vượt xa cả thời kỳ Pháp thuộc hơn 100 năm trước.

     Thành tựu ưu việt của cái gọi là XHCN này đang biến phần lớn người lao động nghèo tới “mạt rệp”. Có lẽ,những người Cộng sản đang chuẩn bị một “lực lượng vô sản mới” cho cuộc cách mạng 4.0 ở thế kỷ 21? Không biết lúc đó, mục tiêu của đấu tranh giai cấp sẽ là ai?

     Không người dân nào biết, mỗi năm BHXH thu bao nhiêu tiền từ lực lượng hơn 55,9 triệu lao động? Không ai biết hoạt động thu chi của “Quĩ tiết kiệm bắt buộc” này như thế nào? Thật kỳ lạ là những con số thống kê, giám sát về việc quản lý nguồn tiền BHXH như là một bí mật quốc gia. Kể cả giới trí thức, công chức, những “chiên gia” kinh tế vĩ mô... cứ như là “thày bói” đang sờ “con voi” có tên là BHXH.

     Chỉ cho đến một ngày đẹp trời nào đó, một vài tờ báo “lề phải” toe lên rằng “nguy cơ thủng quĩ BHXH”, đề xuất tăng thời gian nghỉ hưu, tăng mức thu BHXH, mở rộng đối tượng đóng bảo hiểm bắt buộc tới tận bà bán xôi, bán bún ngoài vỉa hè nếu không sẽ không đảm bảo chi trả bảo hiểm… Thế rồi, “bản giao hưởng” những “kết quả nghiên cứu xã hội” của các “nhà khoa học” cho rằng tuổi thọ người Việt tăng nhanh, tăng cao hơn cả mặt bằng chung khu vực Châu Á dẫn đến thời gian hưởng lương hưu kéo dài… Trong khi thực tế, tỷ lệ người chết vì ung thư, vì tai nạn giao thông… của người Việt đang vô địch trong khu vực.

   2  Tuổi thọ trung bình của người Việt vào khoảng 73 tuổi (theo con số thống kê của Việt Nam) trong khi độ tuổi về hưu của nam đang được xem xét nâng lên tới 62 tuổi và nữ là 60 tuổi trong thời gian tới.

     Không biết, với mức lạm phát phi mã như hiện nay, một lao động đóng BHXH từ năm 20 tuổi, sau khoảng 40 năm đóng tất cả các loại bảo hiểm với mức thu của nhà nước CSVN, sẽ được trả một khoản lương hưu có thể đảm bảo cuộc sống tối thiểu hay không? Nhưng thảm cảnh các cô giáo mầm non hơn 30 năm đóng bảo hiểm, khi về hưu đã được trả lương hưu hơn 1 triệu đồng/tháng là thực tế man rợ của hệ thống bảo hiểm xã hội CSVN.

     Nếu qui định mới về tuổi hưu được 500 ông bà nghị gật sắp sửa thông qua, với thể chất yếu và chế độ dinh dưỡng kém như người lao động Việt Nam, sẽ rất nhiều người chết mà chưa kịp lĩnh sổ hưu. Có lẽ, chưa bao giờ người dân Việt “có được” một hệ thống bóc lột tàn bạo và phi nhân như bây giờ.

     Nếu một phép tính đơn giản là với mức thu nhập trung bình khoảng 220 USD/tháng như tờ Tienphong.vn đưa ra con số thu nhập bình quân của lao động Việt Nam theo nghiên cứu của TWI – chỉ số lao động toàn cầu, khoảng 20 triệu lao động đóng bảo hiểm xã hội với mức đóng 32% lương thì tiền BHXH thu về khoảng 15 tỷ USD/năm qui đổi thành Hồ tệ theo tỷ giá hiện thời. Quả là một số tiền không nhỏ. Tuy nhiên, số tiền này được phân chia, chi tiêu vào việc gì, ra sao? Được biết, khoản tiền “tiết kiệm bắt buộc” của Nhân dân này thường thì không được sử dụng đúng mục đích như chức năng của nó.

     Trong nhiệm kỳ của ông Nguyễn Tấn Dũng, khi đó bà Nguyễn Thị Kim Ngân làm bộ trưởng bộ LĐTBXH, đã cho Chính phủ của ông Dũng vay đến 324.000 tỷ đồng trong tổng số hơn 500.000 tỷ kết dư quĩ BHXH để bù đắp “bội chi ngân sách” của chính phủ trong đó phần lớn dùng để trả lương cho bộ máy Chính phủ khổng lồ hàng thập kỷ qua. Tức là tiền tiết kiệm hưu trí, y tế của người dân được sử dụng để trả lương, chi thường xuyên như tiếp khách, tham quan du lịch, hội thảo... cho đội ngũ gần 11 triệu người hưởng lương từ ngân sách.

     Với sự “hào phóng” này của bà Ngân, ông Dũng đã đưa bà lên làm chủ tịch Quốc hội. Đến nhiệm kỳ thủ tướng sau, ông Phúc đã trả lại quĩ BHXH số tiền 324.000 tỷ bằng... trái phiếu – tức là bằng giấy ghi nợ của Chính phủ có thời hạn.

     Ngoài ra, còn hơn 82.000 tỷ tiền BHXH được các ngân hàng thương mại vay lại để kinh doanh bất động sản đã không còn khả năng hoàn trả. Tất nhiên, những số tiền này vẫn được “đảm bảo” trong điều kiện thể chế nhà nước XHCN Việt Nam sẽ còn tồn tại đến thời điểm trả nợ Nhân dân và Ngân hàng Nhà nước có đủ ngoại tệ để nhập thêm máy in tiền, giấy và mực in.

     Duy chỉ có điều, với cách điều hành kinh tế vĩ mô và sử dụng tiền vô tội vạ như thế này thì rất nhanh Việt Nam sẽ nối bước người anh em Venezuela trên con đường Xuống Hố Cả Nút với mức lạm phát kinh hoàng.

     Những con ma cà rồng “vừa hồng vừa chuyên”

     Bảo hiểm y tế toàn dân là một trong những chính sách mà CSVN luôn khẳng định như một chính sách xã hội, nhân đạo ưu việt theo “định hướng XHCN”.

     Theo qui định hiện hành về BHYT bắt buộc thì đối với người lao động tham gia BHXH, mức đóng BHYT bắt buộc tính bằng 4,5% mức lương tháng của người lao động. Trong đó, chủ sử dụng lao động trả 3% và người lao động đóng 1.5% theo mức lương.

     Đối với BHYT tự nguyện, mức đóng cho tất cả các thành viên thuộc hộ gia đình theo quy định tại Khoản 5 Điều 12 sửa đổi, bổ sung của Luật Bảo hiểm y tế như sau: Người thứ nhất đóng bằng 4,5% mức lương cơ sở (4,5% x 1.300.00 đ x 12 tháng = 702.000đ/năm); người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất; từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất.

     Tuy là “tự nguyện”, nhưng việc triển khai chương trình BHYT toàn dân đang được triển khai áp dụng cho tất cả. Tức là thu tiền BHYT 100% dân chúng. Vấn đề đặt ra ở đây là việc chi trả tiền BHYT cho người dân cũng như phúc lợi y tế mà người dân được nhận ra sao thì cần nói rõ.

     Chưa nói đến vấn đề hạ tầng y tế và y đức của ngành Y, điều mà người ta dễ dàng nhận thấy khi chứng kiến hàng ngàn bệnh nhân “nêm cứng” các bệnh viện lớn ở Việt Nam, cảnh một giường bệnh phải xếp đến 2-3 bệnh nhân và dưới cả gầm giường... là tình trạng thường xuyên ở các trung tâm y tế lớn như bệnh viện Chợ Rẫy, U bướu Trung ương…

     Trong một cuộc họp báo về cái chết của 4 đứa trẻ trong cùng một khoa vào cùng một thời điểm mà nguyên nhân là nhiễm khuẩn BV ở bệnh viện Bắc Ninh, ông Nguyễn Đức Vinh, vụ trưởng vụ Bà mẹ và Trẻ em cho biết một thực trạng tồi tệ ngoài sức tưởng tượng là một ngày Việt Nam có khoảng 70 trường hợp trẻ em tử vong không rõ nguyên nhân và có hơn 400 trẻ sơ sinh tử vong.

     Sự bất bình đẳng trong việc đối xử những bệnh nhân sử dụng thẻ bảo hiểm y tế khám bệnh và bệnh nhân khám “dịch vụ” đã được báo chí và công luận nói quá nhiều.Tuy vậy, hiện nay, một thực tế là BHXH gây áp lực cho hệ thống y tế vốn dĩ đang quá tải trong việc “định mức” khám bảo hiểm trên đầu bác sĩ và không thanh toán khám bảo hiểm y tế với bệnh nhân khám ngoài giờ hành chính, bệnh nhân vượt quá số lượng “định mức” 48 ca/ngày/bác sĩ theo Thông tư 37 của BHXH. Đây là một qui định cực kỳ phi lý và bất công. Trong khi người dân phải mua bảo hiểm y tế bắt buộc và cả “tự nguyện” bắt buộc nhưng việc được hưởng các chế độ bảo hiểm hay không thì còn tùy thuộc “hên xui”.

     Theo số liệu thống kê của ngành BHXH, Việt Nam hiện có tỷ lệ 7,6 bác sĩ và 2,2 dược sĩ trên 1 vạn dân. Như vậy khoảng hơn 1200 dân mới có 1 bác sĩ, không rõ là với Thông tư 37, ngành BHXH tính toán theo kiểu “bốc thuốc” nào mà đưa ra định mức giới hạn 48 ca/ngày/bác sĩ trong khi thực tế một buổi sáng ở các trung tâm y tế lớn con số này vào khoảng 200–300 ca khám/bác sĩ. Như vậy, phần lớn bệnh nhân dù có đóng bảo hiểm y tế đầy đủ, cũng sẽ không được nhận quyền lợi bảo hiểm.

     Vấn nạn gian lận bảo hiểm y tế trong hệ thống ngành Y là một thực tế nhức nhối, nhưng đó là gian lận và sai phạm của các cơ sở ngành Y chứ không phải là của người dân. Tuy nhiên, xuất phát từ sự yếu kém trong quản lý và tư duy cực kỳ ngu xuẩn, vô trách nhiệm của ngành BHXH, những quan chức CS sẵn sàng đẩy rủi ro và bất công cho người dân phải chịu.

     Những sai phạm trong vụ án thuốc chữa ung thư giả của VN Pharma với mấy “con tốt thí” chỉ làm hé lộ một chút xíu những tội ác của ngành Y tế Việt Nam dưới bàn tay của tập đoàn mafia Kim Tiến. Người phụ nữ nắm chiếc ghế Bộ trưởng bộ Y này vẫn nguyên vị, không hề sứt mẻ gì trong những vụ đấu đá thanh trừng nghiệt ngã vừa qua khi mà những “đồng chí” đã nã thẳng K54 vào đầu nhau như ở Yên Bái hay “cọp” Đinh La Thăng cũng bị biến thành củi đốt lò. 

     Là cháu của cố tổng bí thư Hà Huy Tập, bà Kim Tiến là “hạt giống đỏ” thế hệ thứ 3 của đảng CSVN như thái tử đảng Nguyễn Thanh Nghị hay Lê Minh Hưng, Trần Sỹ Thanh… nhưng bà Tiến là PGS-TS ngành y với “trình độ” cũng như bản lĩnh cao hơn nhiều những “cậu ấm hư hỏng”, đảm bảo “vừa hồng, vừa chuyên”.

     Người đàn bà này “tỉnh bơ” trước những nghi vấn, cáo buộc của dư luận là tham nhũng hàng trăm tỷ ở VN Pharma, hay những “sai phạm” tanh mùi máu người liên quan đến hàng ngàn sinh mạng trẻ em chết bởi vacxin kém chất lượng, dịch sốt xuất huyết, bởi sự tắc trách và vô lương tính của hệ thống y tế công, bởi nạn thuốc giả tràn lan…

     Gần đây, một đề án của Bộ Y do Kim Tiến trình quốc hội là việc “hiến máu tình nguyện bắt buộc” cho người trưởng thành ở Việt Nam là 1 lần/năm. Với giá thị trường, 1 đơn vị máu 250ml giá hơn 3 triệu đồng và 1 lít máu đã là 12 triệu Hồ tệ.

     Một nhẩm tính sơ sơ số máu thu được nếu đề án “hút máu” được Quốc hội thông qua cũng đáng giá ngót 5 tỷ USD. Tuy đề án này bị dân tình phản đối rất dữ, song trên thực tế, nó đã được âm thầm tiến hành trước đó từ lâu trên qui mô nhỏ hơn và bí mật hơn.

     Quân đội nhân dân Việt Nam với quân số thường trực khoảng 450.000 quân chưa kể lực lượng bán quân sự, an ninh, công an. Những thanh niên đi lính thực hiện nghĩa vụ quân sự… là những đối tượng đầu tiên đã được bộ Y và các tướng lĩnh Quân đội “quan tâm” từ nhiều năm nay.

     Việc hiến máu tình nguyện 100% ở các đơn vị võ trang, mỗi năm 1 lần đã được thực hiện từ lâu như một “nhiệm vụ chính trị” với lý do “ủng hộ hiến máu nhân đạo”. Mỗi người lính được “bồi dưỡng” 50.000 đồng và 1 bữa ăn có thịt bò cho mỗi lần hiến máu. Không rõ số lượng máu một lần lấy là bao nhiêu, song nhiều thanh niên, tân binh đã ngất xỉu trong những lần hiếu máu bắt buộc kiểu này.

     Số máu này được bán lại cho thị trường nội địa hoặc xuất khẩu thu về hàng ngàn tỷ đồng. Không rõ những khoản tiền khổng lồ từ thị trường máu này có được tính vào GDP của ông thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hay không? Nhưng đây là một việc làm táng tận lương tâm, một hệ thống của những con quỉ hút máu người thực sự đang phè phỡn trên sinh mệnh và sức khỏe của người dân, chiến sĩ nhưng luôn khoác lên mình những chiếc áo blouse trắng tinh “lương y như từ mẫu”.

     Tân Phong,

     31.01.2018

 

Phần mộ là lòng dân !!!

Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 286 (01-03-2018)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
11 Tháng Mười Một 2018(Xem: 80)
Rốt cuộc, giới phân tích kinh tế-chính trị cùng rất nhiều người đặc biệt theo dõi sự tồn vong hàng năm của chế độ Trung Cộng cũng đã có được một bằng chứng – dù nhỏ bé nhưng có giá trị, mà từ đó có thể bổ sung cho những dự đoán về khoảng thời gian chính thể này có thể sẽ cáo chung. Đầu tháng 10-2018, tờ The New York Times International của Mỹ đã có được trong tay một chỉ thị của chính phủ Trung Quốc gửi cho các nhà báo ở nước này ngay tuần trước đó – quy định rõ 6 chủ đề kinh tế cần phải được “quản lý.” Trong bài “Trung Quốc kiểm duyệt các tin tức thất lợi về kinh tế,” The New York Times International đã công khai 6 chủ đề đó, bao gồm:
11 Tháng Mười Một 2018(Xem: 85)
Linh mục Anton Đặng Hữu Nam cho hay bị một thành viên Hội Cờ đỏ nhiều lần dọa giết trong khi lãnh đạo xã phủ định điều này. Sự việc vị linh mục kêu cứu do bị dọa giết đã ồn ào trên mạng xã hội vài ngày nay. "Ông Lê Đình Thọ, Hội trưởng Hội Cờ đỏ xóm Quỳnh Khôi đã ba lần đột nhập vào nhà thờ Giáo xứ Mỹ Khánh, xã Khánh Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An, nơi tôi đang quản nhiệm, đe dọa giết tôi", linh mục Anton Đặng Hữu Nam nói với BBC hôm 24/10.
11 Tháng Mười Một 2018(Xem: 87)
Đây là câu chuyện của người H’Mông Việt Nam bị giam giữ tại Trung tâm Giam giữ Di dân (IDC) Suan Phlu ở Bangkok, Thái Lan. Câu chuyện dựa trên lời kể lại từ lá thư gửi Cao ủy nhân quyền Liên Hiệp Quốc (UNHCR) của tù nhân và lời kể của vợ của anh. Trong một căn phòng nhỏ chật chội, ở một khu phố nhỏ nghèo của Bangkok, Vue Chor kể lại lý do vì sao gia đình chị lại lưu lạc sang Thái Lan gần 10 năm qua, và vì sao chồng chị vẫn ở đằng sau song sắt trại tạm giam.
11 Tháng Mười Một 2018(Xem: 92)
Nguyên tiêu đề: Hãy cầu nguyện cho người Thượng bị lãng quên của Việt Nam. Sự đàn áp của chế độ Cộng sản đối với dân tộc thiểu số ủng hộ Hoa Kỳ trong Chiến tranh VN phần lớn là không thể nhận thấy được nhưng đang bắt đầu được biết đến Hãy bắt đầu với một lời thú nhận. Khi tôi là một phóng viên chiến tranh ở Việt Nam vào cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970, tôi đã không ủng hộ “báo chí nhảy dù.” Đó là chuyến đi thực tế vào vùng chiến bằng trực thăng và ở lại đó một hoặc hai ngày để cảm nhận tình hình và rồi quay trở lại Sài Gòn để viết một bài báo.
11 Tháng Mười Một 2018(Xem: 72)
Báo chí vừa đưa tin, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra kết luận về ông Chu Hảo và đề nghị kỷ luật ông. Lão Mà Chưa An tuyên bố như sau: Phó Giáo sư Tiến sĩ khoa học Chu Hảo là một trí thức lớn của Việt Nam. Ông là một nhà khoa học tài ba trong lĩnh vực vật lý kỹ thuật. Ông đã có những đóng góp to lớn trong việc xây dựng các viện nghiên cứu vật lý và khoa học hàng đầu của Việt Nam. Với tư cách Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, ông đã có những đóng góp to lớn vào việc hoạch định chính sách khoa học công nghệ, nhất là công nghệ truyền thông thông tin (ICT) ở Việt Nam,