CHỨNG NHÂN CỦA ĐỨC TIN Ở THẾ KỶ XXI VÀ LINH MỤC NGUYỄN VĂN LÝ

01 Tháng Tám 20176:45 CH(Xem: 1897)
CHỨNG NHÂN CỦA ĐỨC TIN Ở THẾ KỶ XXI VÀ LINH MỤC NGUYỄN VĂN LÝ

Câu chuyện của cha Andrea là một trong mười lăm mẫu truyện kể lại trong quyển « Những mục tử anh hùng, nhân chứng của đức tin ở thế kỷ 21 ». Những cuộc sống can trường, những tính khí phi thường, những con người của sứ mạng và của lòng trắc ẩn. Trong một thế giới hung hăng hiếu chiến hôm nay, mỗi một câu truyện kể ra, tự nó trở thành một lời tri ân vô vàn đến hàng giáo sĩ. Phần lớn những vị kể trên đều đi đến sự hy sinh cuối cùng, họ hiến dâng đời mình vì tình yêu Chúa và cho dân chúa. Điều ấy chứng minh rằng đến thiên kỷ mới này mà thế giới vẫn không tránh khỏi nạng đàn áp bức hại. Đối với chúng ta, những vị mục tử hùng dũng ấy trong nhiều trường hợp đã là những người tuẩn đạo.

Nguyễn Đông phỏng dịch

 Những mục tử anh hùng.

Chứng nhân của đức tin ở thế kỷ XXI

 

Prêtres héroïques – Témoins de la foi au XXIe siècle

 

 

+FPnfQf0v4oSL23PrYmUAAAAASUVORK5CYII=

 

 

Lời mở đầu

 

« Nếu ánh sáng của Đức Giêsu soi sáng chúng ta, và hướng dẫn cuộc đời chúng ta, thì nó cũng soi sáng tất cả tình huống này, và nhờ đó, chính chúng ta cũng trở thành ánh sáng..»

Những dòng chử trên của cha Andrea Santoro quả không đến bằng những cảm xúc vu vơ mơ hồ. Viết ra trước ngày bị ám sát, câu nói ấy biểu lộ hẳng lên bản sắc của đức tin qua lời nói và hành động. Là nột linh mục nhân từ mộ đạo, cha sống tận tụy với những người nghèo khổ nhất, những người không nhà cửa, những người buôn dâm. Trong Sứ mệnh mục vụ của mình cha không ngừng lại ở giới hạn nào cả. Đối với các tín hữu quay quần bên cha vào những buổi lễ chủ nhât ( mi-sa) ở nhà thờ Trazbon bên bờ Hắc Hải, cha là nguồn hy vọng còn lại giửa những muôn vàn khó khăng. Thế nhưng vào tháng hai năm 2006, cuộc sống sáng ngời ấy lại bị phá vở đi quá sớm bời một nhóm cuồng đạo quá khích, họ dùng súng ám sát trong lúc cha đang cầu nguyện trong nhà thờ.

Câu chuyện của cha Andrea là một trong mười lăm mẫu truyện kể lại trong quyển « Những mục tử anh hùng, nhân chứng của đức tin ở thế kỷ 21 ». Những cuộc sống can trường, những tính khí phi thường, những con người của sứ mạng và của lòng trắc ẩn. Trong một thế giới hung hăng hiếu chiến hôm nay, mỗi một câu truyện kể ra, tự nó trở thành một lời tri ân vô vàn đến hàng giáo sĩ. Phần lớn những vị kể trên đều đi đến sự hy sinh cuối cùng, họ hiến dâng đời mình vì tình yêu Chúa và cho dân chúa. Điều ấy chứng minh rằng đến thiên kỷ mới này mà thế giới vẫn không tránh khỏi nạng đàn áp bức hại. Đối với chúng ta, những vị mục tử hùng dũng ấy trong nhiều trường hợp đã là những người tuẩn đạo.

Sách cũng lược kể cuộc đời của các ngài đã sống theo lời huấn dụ « Ra khơi thả lưới » ( Duc in Altum) của Đức thánh cha Gioan Phaolô II.

Không ngại sóng gió nguy nan, các cha đem phúc âm đến những vùng xa xôi hẻo lánh và nhất là cho những ai đang khao khát chờ dợi tin mừng. Mối ưu tư mục vụ của các ngài đối với những người bất hạnh, cuộc sống vô vị lợi cũng như nhiệt tâm kết hợp đông đảo mọi người vào công trình sinh hoạt của mình đã thắp lên những niềm vui hy vọng sáng ngời trong lòng người dân bị bóp chết bởi bất công nghèo đói. Những phản ứng như thế của các cha phần lớn là do những lời hứa hẹn chính trị sáo rỗng. Nên hết lòng đứng về phía những người bị bỏ rơi, các cha tự nguyện dấn thân cho họ, cho những người bị xem như cặn bã của xã hội.

 

Trong hướng ấy, Hội từ thiện AED (Oeuvre de charité) cho xuất bản quyển « Những mục tử anh hùng ». AED là một tổ chức từ thiện công giáo, ngay từ những ngày kinh hoàng đầu tiên của Cộng sản sau chiến tranh đã từng nâng đở những linh mục quyêt tâm bảo vệ ngọn lửa đức tin trong những giờ đen tối nhất của lịch sử. Thường thì AED cộng tác chặt chẻ với các vị được lựa chọn đúng theo quy định của hội là tìm cách giúp đở những con dân của chúa trong lúc khó khăng hoạn nạn. Trên nhiều mặt, cuộc đời của họ có nhiều điểm trùng hợp với tấm gương của Cha Wienfried van Straaten, người Hoà Lan sáng lập ra hội mà các thế hệ sau thường nhắc đến với biệt danh « Cha Béo ». Cha cũng là người có những phẫm chất đặc biệt như các vị linh mục anh hùng ấy. Sau đệ nhị Thế Chiến, ở Bỉ và Hoà Lan cha kêu gọi dân chúng hảy bỏ qua những thành kiến xưa củ với người Đức đễ giúp đở họ, những cựu thù đang sống cảnh đói khát bơ vơ ngoài trời. Đối với những người bị áp bức sống sau bức màn sắc cs hoặc ở những xứ độc tài tương tự cha là tiếng nói của họ, cha dấn thân vào hiểm nguy đễ an ủi họ về mặt tinh thấn cũng như vật chất. Do đó không phải ngẫu nhiên mà lúc cha mất, Đức thánh cha Gion Phaolô II đã gọi cha là « một Tông Đồ nổi bật của lòng từ nhân ».

 

Một vị Giáo Hoàng khác, Đức thánh cha Bénoit XVI còn di xa hơn nữa về thừa tác vụ linh mục khi công bố « năm linh mục » vào năm 2006. Dựa theo lời của thánh Jean Marie Vianney mô tả Phụng vụ chính là « Tình thương trong tim Chúa » Đúc Cha có ghi lại trong thư mở đầu năm linh mục rằng :  « Làm sao mà không vinh danh được những công khó tông đồ, những nổ lực thầm lặng không ngừng nghỉ và lòng phiếm ái của hàng linh mục ngày nay ? » Thư của Đức cha Bénoit XVI nhấn mạnh rõ rằng trong nhiều trường hợp, các linh mục ấy là những vị anh hùng trong bóng tối. Sự chứng đức tin và lòng cậy trông của các cha rất ít người biết đến và càng ít ai thông hiểu.

 

Vào lúc mà hình ảnh của giáo hội bị mờ đi vì những hành vi gây lo âu và đau buồn thì hơn bao giờ hết, là lúc nên nhắc lại trong tác vụ giáo dân có rất nhiều mục tử như thế đã rước chúa vào tâm hồn của biết bao người dân. Và AED tình nguyện nâng đở những vị như thế. Nhờ vào các vị ân nhân, hội có thể hằng năm giúp sức cho khoảng 25 000 linh mục dưới hình thức thánh lễ, học bổng phổ thông hoặc giáo lý. Thực tiển hơn là giúp đở phương tiện giao thông, nhà cửa phòng trọ. Đấy là chưa kể đến những khoá tu học hằng năm trên thế giới cho khoảng 15 000 giáo sinh.

 

AED cộng tác mật thiết với rất nhiều vị xứng đáng như anh hùng nhưng vì khuông khổ của quyển sách có giới hạn nên buộc chúng tôi chỉ giới thiệu một phần nhỏ trong số các vị ấy. Việc lựa chọn không nhằm mục dích tuyên thánh dù rằng sau này họ rất xứng đáng nhận phần danh dự ấy. Đúng ra do chỉ dấu đức tin khiêm tốn và nghị lực can trường mà các cha được xếp đặt vào quyển sách này. Qua đó, AED muốn tỏ lòng biết ơn đến các vị còn sống hay đã mất đã dày cộng phụng sự giáo dân. Mong sao cho câu truyện của nhóm nhỏ ít oi này sẽ « soi sáng mọi tình huống » như lời cha Andrea Santoro đã nói. Nó sẽ chiếu sáng cho những thế hệ linh mục trẻ mai sau nguyện lòng phụng sự chúa và giáo dân.

 

John Pontifex

 


Phỏng dịch

 

 

Cha Thadeo Nguyễn văn Lý

 

7jtvhtOayJyzW5vvPGr8ReiO8BfghP9twAAAABJRU5ErkJggg==

 

Cha Thadeo Nguyễn văn Lý được thế giới biết đến vì lòng can đảm đấu tranh cho tự do tôn giáo ở Việt Nam và cái giá mà cha hảy còn đang gánh vác ngày hôm nay.

 

Sinh ngày 31 tháng tám năm 1947 tại tỉnh Quảng Trị (Trung phần), Cha Thadeô Nguyễn văn Lý chiụ chức linh mục vào năm 1974 trước khi đất nước bị thống nhất dưới ách thống trị của cộng sản. Cha Lý được bổ nhiệm sau đó làm thư ký cho ĐTGM Nguyễn Kim Điền (+1988), một vị giám mục thật dũng cảm.

Ngay từ tháng bảy năm 1977, Cha Lý bị bắt giam vì ngài phổ biến 2 bài tham luận của ĐGM lên án nhà cầm quyền đàn áp tôn giáo. Tức khắc sau khi bị bắt, ngài bị kết án 20 năm tù và bị giam tại một tại cải tạo gần Huế. Vài tháng sau, cha được thả ra với điều kiện cấm ngặt mọi sinh hoạt tôn giáo. Nhưng cha vẫn tiếp tục phục vụ dạy giáo lý cho dân.

Tiếp đến việc dấn thân của Cha Lý pha lẫn với những giờ phút đầy sóng gió trong cuộc hành hương La Vang mà Cha trở thành một trong những người phụ trách chính. La Vang là một địa danh rất nổi tiếng có Đức Mẹ hiển thân nhưng cũng là nơi bị công an kiểm soát rất gắt gao. Vào năm 1982, mặc dù bị đe dọa nhưng Cha Lý vẫn cùng đi với một số giáo dân đến thánh địa. Lúc ấy UB nhân dân xã muốn tước bỏ cương vị linh mục và buộc Cha phải về ở với gia đình của cha mẹ (thâm ý của họ làm cho Cha hoàn tục). Nhưng không những từ chối nghe theo lệnh ấy mà cha còn dùng ống loa đễ tố cáo NCQ đàn áp tôn giáo và đòi hỏi quyền tự do tín ngưỡng cho người công giáo. Được đồng bào bảo vệ, NCQ đã phải huy động hơn 200 công an đến đễ bắt cha đi. Vào năm 1983, CSVN đưa Cha ra toà ở Huế. Cha bị tuyên án 10 năm tù và 4 năm quản chế. Sau khi ra tù vào tháng bảy năm 1992, Cha Lý tiếp tục bị quản chế và cấm tuyệt không được có bất cứ sinh hoạt tôn giáo nào, kể cả việc cử hành lễ.

Bị đày đi an trí tại làng Thủy Biều ở với nhóm giáo dân nhỏ nhoi, nơi đó Cha lập ra một đường dây tương trợ cho người nghèo, giúp đở cho những người lớn tuổi, mở lớp dạy vi tính cho các bạn trẻ mà không cần phải xin xỏ đơn từ gì liên quan đến sinh hoạt tôn giáo.

Đến tháng mười một năm 1994, Cha công bố bản « Tuyên ngôn mười điểm về thực trạng giáo hội công giáo tại giáo phận Huế. » mà trong đó cha vạch ra những vi phạm của NCQ về quyền tự do tín ngưỡng. Vào tháng mười một năm 2000, Cha phổ biến lại bản tuyên ngôn ấy nhưng kèm theo lời kêu gọi « Chúng tôi cần có tự do tôn giáo thật sự tại Việt Nam. » 

Tháng mười hai năm 2000, phản đối việc NCQ hạn chế các sinh hoạt tôn giáo và đòi lại tài sản của nhà thờ bị tịch thu, cha Lý và giáo dân căng lên trên một mãnh đất của giáo xứ khẩu hiệu « Chúng tôi cần có tự do tôn giáo thật sự » và « Tự do tôn giáo hay là chết! ». Những hình ảnh ấy lan truyền khắp nơi trên thế giới. Cha còn viết thư đến Hội Đồng Giám Mục khẩn xin « các giám mục cứ truyền chức linh mục và bổ nhiệm vào các giáo xứ cho các chủng sinh có đủ đạo hạnh và khả năng mà không phải xin phép bất cứ nhà cầm quyền thế tục nào.»

Đầu năm 2001 NCQCS quấy rối dữ dội và cô lập cha Lý khi cha bắt đầu gửi đi những thông điệp trên khắp hoàn cầu qua mạng lưới Internet. Đối với CS, xem như vượt sức tưởng tượng của họ khi cha tường trình với một nhóm dân biểu Quốc Hội Hoa Kỳ về tình hình nhân quyền và qua đó cha tán thành việc áp lực kinh tế đễ buộc việt nam phải mỡ rộng tự do tôn giáo.

Ngày 17 tháng 5 năm 2001, dù có sự kháng cự quyết liệt của đông đảo đồng bào, hơn 200 công an tràn ngập vào nhà thờ xứ và bắt cha Lý đi. Sau đó cha bị kết án vào ngày 19/10, 15 năm tù với 5 năm quảng chế với tội « phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc » và « không chấp hành quyết định quản chế hành chính. » Theo báo Nhân Dân thì « kẻ phản quốc NV Lý phải nên vui mừng đã nhận một bản án quá nhẹ nhàng » ! Tuy vậy dưới áp lực quốc tế, bản án giảm đi đần dần 10 năm, 5 năm rồi sau cùng là 3 năm : ba năm chiụ tù ngục ở trại Ba Sao Bắc Việt. Cha Lý bị giam trong một khu riêng biệt hoàn toàn cách ly với các tù nhân khác trong trại. Trừ gia đình ra, cha không được liên lạc với bất kỳ ai nhưng gia đình cũng không nhận được thu từ nào của cha cả ! Thăm nuôi thì chỉ được 15 phút mỗi 4 tháng ! Đến độ tài xế taxi chở thân nhân đến thăm cũng thành đối tượng bị đe doạ. Nhưng đau đớn nhất đối với cha là NCQ đàn áp những người thân thuộc trong gia đình đễ áp đảo tinh thần của cha bằng cách sai công an bắt giam hai người cháu trai và một ngưòi cháu gái đễ hạch hỏi điều tra và gán cho tội làm « gián điệp ».

 

Chọn lúc Tết năm 2004, tháng hai tây lịch, NCQ thả cha ra đễ quản thúc tại Nhà Chung ở Huế. Tháng Tư 2006, cha cùng với một vài người thảo ra bản Tuyên ngôn dân chủ nhân quyền cho Việt Nam. Tiếp theo đó, cả nhóm cùng nhau qua bản tuyên ngôn đặt cho tên nhóm Khối 8406, tên dựa theo ngày viết ra văn kiện này. Đến ngày 19/07/2007 cha lại bị bắt vì chủ trương tờ báo ngầm Tự Do Ngôn Luận. Vật dụng dồ dùng bị công an niêm phong và tịch thu. Cha Chân Tín và cha Phan văn Lợi thì bị quản chế. Riêng Cha Lý lúc ấy bị quản chế ở Bến Củi cách Huế 20 km thì bị kết án 8 năm tù vào ngày 30/03/2007, rồi đem giam ở trại Ba Sao sau một phiên toà hối hả không luật sư biện hộ. Bức ảnh cha bị công an bịt miệng trong phiên toà đã đi vòng quanh cả thế giới.

Từ tháng 5/2009 trở đi, Cha Lý bị ba lần tai biến mạch não do khối u ở não không được chữa trị. Được gia đình cho biết, ĐGM Huế cử LM Lê Quang Quý và Lê Quang Viên đến yêu cầu bộ công an cho LM Lý được sớm trở về GP Huế đễ được chăm sóc cẩn thận hơn. Ngày 17/09, hai cha dược vào thăm cha Lý trong tù. Vui mừng và biết ơn trước sự quan tâm của ĐGM và của các cha, Cha Lý đã gửi đến quý cha lời cấu nguyện hiệp thông của cha trong thánh thể. Kế đến cha tỏ ý không muốn đi điều trị ở bệnh viện theo đề nghị của ĐGM vì theo lời cha nói « bên cạnh con, biết bao anh em khác cũng đang đau ốm, nhưng không được săn sóc cách đặc biệt như con ».

 

Ngày 15/03/2010, cha Lý ra tù với một phần thân thể bị bại liệt. Cha chỉ được tạm thi hành án trong thời hạn 12 tháng đễ chửa bệnh và sau đó phải quay trở lại nhà tù Ba Sao. Theo thông báo của công an thi « Việc phạm nhân Nguyễn Văn Lý được tạm đình chỉ thi hành án phạt tù, về địa phương chữa bệnh theo quy định của pháp luật Việt Nam, thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta. »

Vừa sau khi được đưa về nhà Chung GP Huế, cha đã có ngay một buổi phỏng vấn của báo chí. Người ta thấy ba năm tù ấy có làm suy giảm về mặt sức khoẻ nhưng không hề làm tổn thương đến niềm tin vững chắc của cha. Cha còn khẳng định là không nhìn nhận tính cách bất hợp pháp của bản án xử năm 2007, vì nó « vừa bất công vừa không đúng với luật pháp quốc tế.» Trong các mẫu khai in sẳn buộc phải ký, cha đều thay thế danh từ «tội phạm » bằng từ « tù nhân lương tâm».

Cho đến nay, cha Lý đã bị tổng cộng là hơn 16 năm tù.và cũng là một trong số hơn 400 tù nhân lương tâm ở Việt Nam. Trường hợp của cha nhắc nhở cho thế giới rằng người ta không thể bóp nghẹt tiếng nói của lương tâm cũng không bịt miệng được sự thật.

 eeqjsCwp6wgAAAABJRU5ErkJggg==